Hướng dẫn cách làm thơ

Các bài thơ do chính thành viên Vn520 làm

Các điều hành viên: Nhược Trần, Love_You_Love_Me

Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi Nhược Trần » 20 Tháng 9 2009, 14:40

Các bạn thân mến!
Thời gian gần đây có nhiều bạn gửi thư hỏi [color=#00bfbf]colenao về cách làm thơ.Hôm nay colenao đã sưu tầm và phác thảo được một số cách làm thơ ,xin post lên cho mọi người tham khảo.[/color]
Thơ có rất nhiều thể loại, thơ bẩy chữ, tám chữ, năm chữ, lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú Đường Luật, tứ tuyệt ..v..v ... Trong bài viết này,[color=#00bfbf]colenao xin đề cập đến cách làm thơ bẩy chữ và phần sau là thơ lục bát và thơ tám chữ. [/color]

I. Vần trong thơ :

[color=#800000][color=#000080]Vần bằng
: là những chữ không có dấu hoặc mang dấu bằng. [/color]
[color=#000080]Vần trắc: là những chữ mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng. [/color]
Đã làm thơ là phải gieo vần, không có vần thì dù hay đến mấy cũng không thể gọi là thơ được . Những chữ có cách viết và cách phát âm tương tự nhau thì gọi là vần . Ví dụ như : hoa-hòa , mây-bầy , hương-thường , đời - người v.v.v.

II. Cách gieo vần trong thơ bẩy chữ :
[color=#000080]1. Cách thứ nhất :Trong khổ thơ gồm 4 câu, gieo vần ở cuối câu 1,2, 4 [/color]

Ví dụ :

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ [color=#008000]ngời
Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người [/color]

[color=#000080]Chú ý : theo cách gieo vần này, chữ cuối câu 1,2,4 là vần bằng và chữ cuối câu 3 là vần trắc . [/color]
[color=#000080]2. Cách thứ hai : Gieo vần ôm - Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 4, chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 3 [/color]

Ví dụ :
Tiếng đàn thầm dịu dẫn tôi [color=#008000]đi
Qua những sân cung rộng hải hồ
Có phải A Phòng hay Cô ?
Lá liễu dài như một nét mi [/color]

[color=#000080]3. Cách thứ ba : Gieo vần chéo [/color]
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4

Ví dụ :

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng [color=#008000]ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân [/color]

[color=#000080]Chú ý : để câu thơ được nhịp nhàng, ở chữ 2,4,6 của câu thơ, nên gieo vần bằng, trắc, bằng hoặc trắc, bằng, trắc [/color]
Ví dụ :

Bốn bề ánh nhạc biển pha lê ( Bằng-Trắc-Bằng)
.............................................
Sương bạc làm thinh khuya nín thở (Trắc-Bằng-Trắc )

Cách gieo vần trong một khổ thơ :

Sau khi đã gieo vần bằng trắc nhịp nhàng ở mỗi câu thơ, bạn cần chú ý đến kết hợp vần của 4 câu thơ trong cả khổ thơ .
[color=#000080]1.Cách thứ nhất :
Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu [/color]

Câu 1 :Bằng-Trắc-Bằng
Câu 2 :Trắc-Bằng-Trắc
Câu 3: Trắc-Bằng-Trắc
Câu 4 : Bằng-Trắc-Bằng


[color=#000080]Ví dụ :
Bốn[color=#000080] bề ánh nhạc biển pha(Bằng-Trắc-Bằng )
Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề [/color](Trắc-Bằng-Trắc )
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở (Trắc-Bằng-Trắc)
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê (Bằng-Trắc-Bằng) [/color]

[color=#000080]2. Cách thứ hai :
Gieo vần bằng, trắc ở các chữ 2,4,6 của mỗi câu [/color]

Câu 1 :Trắc-Bằng-Trắc
Câu 2 :Bằng-Trắc-Bằng
Câu 3: Bằng-Trắc-Bằng
Câu 4 : Trắc-Bằng-Trắc

Ví dụ :

Phơ [color=#008000]phất ngoài hiên, dáng liễu hoa (Trắc-Bằng-Trắc)
Sương sa man mác gió xuân tà (Bằng-Trắc-Bằng)
Cảnh khuya gợi nỗi niềm xa xứ (Bằng-Trắc-Bằng)
Ánh nguyệt soi lầu chỉ bóng ta (Trắc-Bằng-Trắc) [/color]

[color=#008000]III. Cách gieo vần trong thơ lục bát:[/color]

Khác với thơ bẩy chữ, thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau :

-Chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát , chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục .
[color=#000080]ví dụ :
[/color]

Khúc đâu Tư mã Phượng [color=#000080]cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân. [/color]

- Các chữ thứ 2,4,6 của câu lục phải là bằng, trắc, bằng

[color=#000080]Ví dụ : [/color]

[color=#000000]Trong như tiếng hạc bay qua (Bằng-Trắc-Bằng) [/color]

-Các chữ thứ 2,4,6,8 của câu bát phải là bằng, trắc, bằng, bằng

[color=#000080]ví dụ : [/color]

[color=#000000]Đục như tiếng suối mới sa nửa vời (Bằng-Trắc-Bằng-Bằng) [/color]

[color=#008000]Cách Làm Thơ Tám Chữ:[/color]

Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc, ví dụ :Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách, có thể theo các cách tương tự như gieo vần thơ 7 chữ như sau :

[color=#000080]1. Gieo vần ôm : [/color]

- Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 .

[color=#000080]Ví dụ :
Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng
Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây
Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây
Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh [/color]choáng.

[color=#000080]2. Gieo vần chéo : [/color]
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
[color=#000080]Ví dụ: [/color]

Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc !
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần [color=#008000]gian
!
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt !
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn. [/color]

Tôi không muốn đất trời xoay chuyển [color=#000080]nữa
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa
Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng [/color]tôi.

[color=#000080]3. Chữ cuối câu 1 vần với chữ 5 hay 6 câu 2 , chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3 và vần với chữ 5 hay 6 câu 4 [/color]
[color=#000080]Ví dụ : [/color]
Cõi thiên tiên kiều diễm ngàn ảo [color=#008000]ảnh
Điện nguy nga tỏa muôn ánh pha
Thuyền Từ Thức bồng bềnh tới bến
Rồi ngơ ngẩn khi trở về hiện thực. [/color]

[color=#000080]Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ :lồng không vần với lộng. [/color]

[color=#000080]*Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau. [/color]

[color=#000080]Ví dụ : [/color]

Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu [color=#008000]mến
.[/color]

Đây là quán tha hồ muôn khách [color=#008000]đến
Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
Đây là vườn chim nhả hạt mười phương,
Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc .[/color]

Hy vọng bài viết này sẽ giúp đỡ được phần nào các bạn yêu thơ và đang chập chững làm thơ . Nếu các bạn muốn tìm hiểu thêm về thể loại thơ nào nữa, [color=#00bfbf]colenao xin sẵn lòng chia sẻ . Chúc các bạn thành công ! :x [/color][/color]
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
Nhược Trần
_Moderator_
_Moderator_
 
Bài viết: 1499
Ngày tham gia: 09 Tháng 12 2008, 22:36
Đến từ: 台灣
Thanks: 3095
Thanked: 4059 times trong 826 posts


FB
FB

Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi Nhược Trần » 20 Tháng 9 2009, 15:40

Thơ Đuờng Luật:
Thơ Đường Luật còn có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật.
Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu).
Trong bài này, chúng ta bàn tới thể Thất Ngôn Bát Cú .
[color=#008000]I. Cách Gieo Vần:[/color]

-Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:
- Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi.

Ví dụ: Vần ôi thì đi với ôi, vần ta thì đi với ta hoặc tà.
- Trong bài thơ có 5 vần được gieo ở cuối câu đầu (tức câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (tức câu 2, 4, 6 và 8).
- Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hòn, non, mòn, con... Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.
[color=#008000]II. Nguyên Tắc Đối:
-Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, về tình, về thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức :tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v...
Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề), Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.[/color]
[color=#000080]1. Đề gồm có hai phần:
- Phá đề (câu thứ 1):
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
- Thừa đề (câu thứ 2):
[/color]Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
[color=#000080]2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): [/color]
_Hai câu này phải đối với nhau.
[color=#008000]Lom khom dưới núi, tiều vài [/color]chú,
[color=#008000]Lác đác bên sông, chợ mấy [/color]nhà.
Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ) và trắc đối với bằng.
[color=#000080]3. Luận
(câu thứ 5 và câu thứ 6):


_Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về tình cảm. Hai câu này phải đối với nhau.
[color=#008000]Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia.
[/color]Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ) và trắc đối với bằng. Đau lòng đối với mỏi miệng (trạng từ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ) và trắc đối với bằng.
[color=#000080]4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): [/color]
_Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc.
[color=#008000]Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,(Bằng_Trắc_Trắc)
Một mảnh tình riêng ta với ta[/color].(Trắc_Bằng_Bằng)
(Qua Đèo Ngang_Huyện Thanh Quan)
Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với tình riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng.
[/color]
[color=#008000]III. Luật Bằng Trắc
-Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm.[/color]
[color=#008000]1. Thanh[/color]

-Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.
a. Thanh Bằng
-là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, hoa...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (như: người, trời, tình...).
b. Thanh trắc
-Là những tiếng hay chữ có dấu sắc ( '} dấu hỏi ( ?) dấu ngã ( ~} và dấu nặng ( .). Ví dụ: lá, bát, tưởng, đỉnh, mũ, cũ, tự, trọ ...
[color=#008000]2. Luật
-Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc.
a. Luật Bằng[/color]
-Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng.
Ví dụ:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
(1) Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B là Bằng, T là Trắc và V là Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau:

1 .B_ B _T_ T_ T_ B_ B (Vần)
2. T_ T_ B_ B_ T_ T_ B_ (Vần)
3. T _T_ B_ B_ B_ T_ T
4. B_ B_ T_ T_ T_ B_ B (Vần)
5. B _B _T_ T_ B_ B_ T
6. T_ T_ B_ B_ T_ T_ B (Vần)
7. T _T_ B_ B_ B_ T
8. B _B_ T_ T_ T_ B_ B (Vần)

[color=#000080]Ví dụ:
Cô hàng lấy sách cắp ra đây!.==> B_ B _T_ T_ T_ B_ B (Vần)
Xem thử truyện nào thú lại say. ==> T_ T_ B_ B_ T_ T_ B_ (Vần)
Nữ tú có bao xin xếp cả, ==> T _T_ B_ B_ B_ T_ T
Phương hoa phỏng liệu có còn hay...?==> B_ B_ T_ T_ T_ B_ B (Vần)
Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ, ==> B _B _T_ T_ B_ B_ T
Chinh phụ thế nào bán lấy may.==> T_ T_ B_ B_ T_ T_ B (Vần)
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi, ==> T _T_ B_ B_ B_ T
Giá tiền cả đó tính sao vay.==> B _B_ T_ T_ T_ B_ B (Vần)
(Hồ Xuân Hương_Hỏi Cô Hàng Sách)[/color]
[color=#000080]b. Luật Trắc:

-Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc.
Ví dụ:
[/color]Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
[color=#008000](1) Luật Trắc Vần Bằng
-Luật Trắc Vần Bằng như sau:[/color]
1. T T B B T T B (V)
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T
8. T T B B T T B (V)

[color=#000080]Ví dụ:
Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì?
Thương chồng nên khóc tỉ ti.
Ngọt bùi, thiếp nhớ mùi cam thảo,
Cay đắng, chàng ơi, vị quế chi.
Thạch nhũ, trần , sao để lại,
Quy thân, liên nhục, tẩm mang đi.
Dao cầu, thiếp biết trao ai nhỉ?
Sinh , chàng ơi, tử tắc quy.
[/color]
(Hồ Xuân Hương-Bà Lang Khóc Chồng)
[color=#008000]*Chú Thích: Những chữ có gạch ở dưới (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, còn những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. [/color]
Mẹo để nhớ:
Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận
Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh
Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật.

[color=#000080]3. Niêm-[/color]
_Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau.
Ví du:Luật Bằng Vần Bằng.
_Câu 1 niêm với câu 8
1.B B T T T B B (V)
_Câu 2 niêm với câu 3
2. T T B B T T B (V)
3. T T B B B T T
_Câu 4 niêm với câu 5
4. B B T T T B B (V)
5. B B T T B B T
_Câu 6 niêm với câu 7
6. T T B B T T B (V)
7. T T B B B T T
_Câu 8 niêm với câu 1
8.B B T T T B B (V)
[color=#000080]Ví dụ: Luật Trắc Vần Bằng.
_Câu 1 niêm với câu 8
1. T T B B T T B (V)
_Câu 2 niêm với câu 3
2. B B T T T B B (V)
3. B B T T B B T
_Câu 4 niêm với câu 5
4. T T B B T T B (V)
5. T T B B B T T
_Câu 6 niêm với câu 7
6. B B T T T B B (V)
7. B B T T B B T
_Câu 8 niêm với câu 1
8. T T B B T T B (V)[/color]
Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.
[color=#000080]Ví dụ:
Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ có gạch dưới):[/color]
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không...
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng,
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

[color=#008000]Đổi thành thất niêm: [/color]
Kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng (thất niêm),
Cầm bằng làm mướn, mướn không công.
Năm thì mười họa, nên chăng chớ,
Một tháng đôi lần, có cũng không...
Thân này ví biết dường này nhỉ,
Thà trước thôi đành ở vậy xong.

[color=#008000]Chú ý: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết nhường nào![/color]
Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được
Hình ảnh
Hình đại diện của thành viên
Nhược Trần
_Moderator_
_Moderator_
 
Bài viết: 1499
Ngày tham gia: 09 Tháng 12 2008, 22:36
Đến từ: 台灣
Thanks: 3095
Thanked: 4059 times trong 826 posts


Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi NguyenDoai » 05 Tháng 1 2010, 21:46

Về thơ cú thì mình không hiểu biết nhiều
Mình chỉ có một vài điều muốn chia sẻ cùng các bạn đây chỉ là những kiến thức mà mình được học từ hồi còn học phổ thông
Muốn là thơ theo thể loại nào cũng vậy cũng cần có nhưng quy định về thanh về vần niêm luật
ở đây mình chỉ nõi về luật về thanh và vần
Về thanh thì giống như Nhược Trần đã nói
Trong thơ có 2 thanh cơ bản
Thanh bằng gồm những tiếng "không dấu " hoặc có dấu " huyền "
Thanh trắc gồm những tiếng có "dấu sắc" ,"dấu ngã" ,"dấu nặng" và "dấu hỏi"
Trong thơ laucj bát và thơ đường đều có luật như sau
"Nhất tam ngũ bất luận
Nhị tứ lục phân minh "
Nghĩa là "Tiếng thứ 1 ,3 ,5 mình không cần quan tâm
Tiếng thứ 2 ,4 ,6 cần phân rõ ràng "
Về phân như thê nào thì mình xin giớ thiệu như sau
B - T - B
(2) (4 ) (6)

Ví dụ trong truyện kiều có câu

"Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân "

Lòng ... ả
2 B ... 4 T

Hoặc cũng có thể là
T - B - T
Ví dụ trong bài Bước tới đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan có câu

"Bước tới đèo ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá là chen hoa"

Tới .. ngang .. xế
2T ..4B .. 6T
Tóm lại các tiếng 1.3.5 thì các bạn không cần quan tâm đến thanh
còn các tiếng 2 .4 .6 thì các bạn cần chú ý
B -T- B
hoặc T-B-T

Còn về vần
Trong thơ lục bát thì có quy dịnh về các gieo vần như sau
Tiếng thứ 6 của câu 8 phải vần với tiếng thứ 6 của câu sáu
và tiếng thứ 6 của câu sáu tiếp theo phải vần với tiếng thứ 8 của câu 8 truớc đó
Ví dụ
Trong Truyện Kiều của nguyễn Du có câu

" Một lời tuy có ước xưa,
Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều.
Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
Thà cho ngọn nước thủy chiều chảy xuôi! "


Còn trong thơ đường
Các tiếng cuối của câu 1, 2, 4, 6, 8
Phải vần với nhau

Ví dụ trong bài thơ "Thu Điếu của Nguyễn Khuyến "


Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Vần "eo " đã được hiệp

Hoặc trong bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Huơng
Thân em vừa tráng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Vần "on "

Đề đền sầm nghi đống của Hồ Xuân Huơng

Ghé mát trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền nghi đống đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

Vần " eo "

Ngoài ra còn có những quy định về niêm về luât về bó cục cảu bai thơ mình không nói vì nói ra chắc phức tạp lắm cứ nói đơn giản để mọi người làm thơ sao cho đúng vần đúng thanh cũng ok roài
Hy vọng trong số các thành viên nhà mình sau này sẽ có nhiều thi sĩ có những tác phẩm để đời được đưa vào trong sánh giáo khoa để giảng dạy trong chương trình giáo dục phổ thông
^_^
_____Nguyễn Kim Đoài_____
Hình ảnh

Lắng nghe giai điệu quê hương !...
Tôi yêu Việt Nam yêu Làng Quan Họ quê tôi ...
[highlight=#ffffff][highlight=#ffffbf][size=1]"Làm việc quá sức sẽ đem lại nhiều niềm vui hơn là làm việc chưa đến sức"
[/highlight][/size]
[/highlight]
Hình đại diện của thành viên
NguyenDoai
_History_
_History_
 
Bài viết: 192
Ngày tham gia: 14 Tháng 2 2009, 16:17
Thanks: 40
Thanked: 114 times trong 47 posts

The following user would like to thank NguyenDoai for this post
Bóng Trăng Vàng, HoaiNam, Love_You_Love_Me, Nhược Trần, uocvong11

Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi Hoanganh_tot_bung » 20 Tháng 3 2010, 16:15

Thi Luật

Mình tham khảo các bạn cũng tham khảo lâật thơ nha


Bình là bằng phẳng, đều đều, bình thường; trắc là nghiêng lệch. Âm thanh đang ở mức bình thường (bình thanh) chợt bổng lên cao hay đổ xuống thấp hơn (trắc thanh).

Nếu lựa từ sao cho có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.

1. Vần có 2 thứ:

a. bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — hai, hài

b. trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — hải, hãi, hái, hại

Tiếng bình không vần với tiếng trắc: hai không vần với hải.

Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?

Những tiếng "thấy", "mấy" cùng phát ra một âm "ây" cùng gieo trắc thanh. Những tiếng "dâu", "màu", "sầu" có âm "âu" và "au" tương tự, cùng gieo bình thanh. Tất cả từng cặp một như thế gọi là vần với nhau.

2. Vần thể giàu hay nghèo:

a. vần giàu: những tiếng có cùng âm và thanh
Phương, sương, cường, trường — vần trắc giàu
Thánh, cảnh, lãnh, ánh — vần bằng giàu

b. vần nghèo: đồng thanh nhưng với âm tương tự
Minh, khanh, huỳnh, hoành — vần bằng nghèo
Mến, lẽn, quyện, hển — vần trắc nghèo

3. Trong thơ Việt, có 2 cách gieo vần

a. Gieo vần ở giữa câu:
Tiếng cuối của câu trên vần với một tiếng nằm bên trong câu dưới. Như trong thể thơ lục bát, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát theo sau.

Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Nguyễn Du

b. Gieo vần ở cuối câu:
Các tiếng cuối câu vần với nhau.

Vần tiếp: các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

Xuân Diệu

Vần tréo: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 3 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 4.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Vũ Ðình Liên

Nhiều khi chỉ cần tiếng cuối câu 2 vần với câu 4 thôi.

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Quang Dũng

Vần ôm: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 4 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 3. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại.

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Nguyên Sa

Vần ba tiếng: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1, 2 và 4 vần với nhau. Câu 3 khác vần.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Thâm Tâm
Thơ lục bát

Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6 8
bằng trắc bằng bằng

Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.

Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.

Nguyễn Bính


Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.

Huy Cận

Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát:

1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.

Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.

Nguyễn Du

2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:

Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

Thơ song thất lục bát

Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình, 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ.
Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng.


3 5 7
trắc/bằng bằng trắc
3 5 7
bằng trắc bằng

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Đặng Trần Côn


Thơ bốn chữ

Nếu tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng.

2 4
trắc bằng
2 4
bằng trắc

Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó.

Cách gieo vần

1. Vần tiếp (ít dùng)

Lính đóng ven rừng
Giữa mùa nóng nực
Uống cạn hố nước
Thấy toàn đầu lâu
Thịt rữa đi đâu
Còn xương trắng nhỡn

Trần Đức Uyển

2. Vần tréo

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày

Nhã Ca

Người từ trăm năm
Về ngang sông rộng
Ta ngoắc mòn tay
Trùng trùng gió lộng

Nguyễn Tất Nhiên

3. Vần ôm

Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

Phạm Thiên Thư

4. Vần ba tiếng (ít dùng)

Sao biếc đầy trời
Sầu trông viễn khơi
Ðêm mờ im lặng
Nhìn hạt sương rơi

Khổng Dương

Em là ánh trăng
Vừa biếc vừa xanh
Em là giấc mộng
Ðêm xuân của anh
^-^ trông bạn quen quen, hình như tớ ... chưa gặp bạn bao giờ.
Hình đại diện của thành viên
Hoanganh_tot_bung
_Hot_Member_
_Hot_Member_
 
Bài viết: 241
Ngày tham gia: 14 Tháng 3 2010, 10:07
Đến từ: chân trời
Thanks: 471
Thanked: 941 times trong 198 posts

The following user would like to thank Hoanganh_tot_bung for this post
Bóng Trăng Vàng, HoaiNam, Love_You_Love_Me, Nhược Trần

Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi dean165 » 23 Tháng 7 2010, 09:52

Đúng là thơ có những niêm luật rất chặt chẽ. Mà những điều này, nhất là những bạn nào học chuyên văn đều đã học qua và có biết đôi chút (vì rất khó nhớ). Song thực tế hiện nay, thơ đã có những bước tiến khá xa, thậm chí không theo một trật tự nào, thơ ngày càng siêu thực hơn mà có khi chúng ta đọc xong thì không hiểu là nói gì (cái này thì tôi tin là các bạn cũng từng được đọc qua trên sách báo). Mà các bạn cũng biết đấy, thơ mà bám sát với niêm luật gieo vần quá nhưng không thoát thai được ý tứ, không rõ ràng về tư tưởng thì các nhà thơ hiện đại gọi đây là dạng thơ... "cúng cụ", tức là thơ ấy chỉ để cho người già làm. Mặt khác, các nhà phê bình thơ hiện nay, khi phê bình một bài thơ nào rất ít, thậm chí rất hiếm khi nói về các niêm luật của bài thơ ấy, chỉ có khi chúng ta thi cử mới nói tới điều này. Trong thi nhân Việt Nam, khi Hoài Thanh bình thơ cũng không mấy nhắc về điều này. Thành thử ra, những người làm thơ rất "hoang mang" khi chọn cho mình một hướng đi. Tóm lại là làm thơ phải có giọng điệu riêng, hướng đi riêng để không lẫn vào đâu được, khi đọc thơ lên là người ta biết đó là thơ của ai, thì người đó mới thực có chỗ đứng nhất định trong "làng thơ" :-)
Mấy lời lạm bàn, xin được thể tất!
Hình đại diện của thành viên
dean165
.
.
 
Bài viết: 83
Ngày tham gia: 14 Tháng 10 2009, 15:33
Đến từ: Việt Nam
Thanks: 132
Thanked: 327 times trong 65 posts

Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi Bóng Trăng Vàng » 23 Tháng 7 2010, 11:42

Cái khó khi làm thơ là diễn đạt được ý thơ của mình theo niêm luật , không có ý thơ mà viết ra có vần có luật thì ít nhất cũng còn được gọi là " vè " cũng còn dễ nhớ cho người đọc , còn không theo niêm luật mà cứ nương theo thi ý viết ra vài chữ rồi lại xuống hàng viết tiếp .... thì cuối cùng nhìn cũng giông giống 1 bài thơ , nhưng phải có ai cảm nhận được cái " ý thơ " ấy và cho là nên thơ thì mới nhớ lại được , còn không thì đố ai ngày mai còn nhớ !

Niêm luật là thứ được quy định rõ ràng rành mạch , và được thi nhân tự cổ chí kim chấp nhận , nên nó mới có thể tồn tại mãi đến bây giờ.
Còn ý thơ thì bao la vô tận , tùy theo chủ quan riêng của từng người . Anh bảo có , tôi nói không , thế thì chẳng lẽ anh lại dí súng vào đầu tôi bắt tôi nói có à ?

Xa xưa thì những tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du , những bài Sấm của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm , những bài hịch bài thơ của cổ nhân mặc dù đã trải qua hàng trăm hàng nghìn năm nhưng vẫn in sâu trong lòng người suốt từ thế hệ này sang thế hệ kia , gần đây thì có những bài vè , những bài đồng dao mà chúng ta đã nghe và học từ thuở đầu còn để chỏm mới cắp sách đến trường cô giáo vừa dạy đánh vần vừa học .v.v... mặc dù có thể tên tác giả đã bị lãng quên , hay cũng chẳng có tên để mà nhớ , nhưng những vần thơ ấy tôi nghĩ rằng cho đến tận bây giờ mỗi người chúng ta đây mỗi người ít nhất cũng còn nhớ được dăm ba bài . Ngược lại , đất nước ta sau 1975 , không biết đàng ngoài thì như thế nào , chứ còn trong nam thì các " ngài đai cao mũ lớn " hay bày ra cái màn dịch thơ của các đại văn hào Trung quốc , Liên sô sang tiếng Việt , rồi cố tìm cách nhồi nhét cho bằng được vào những cái đầu học sinh non trẻ . Tôi không phủ định những Puskin .v.v... là đại thi hào của dân tộc họ , nhưng vấn đề là dịch thơ của các ông ấy sang tiếng Việt thì quá trình dịch thuật không thể nào cũng đem luôn cả cái vần điệu trong nguyên bản chuyển thành thơ Việt được , vì thế cho nên với lớp tuổi như chúng tôi , bị ép phải học thơ Liên sô như vẹt để được lên lớp , cho đến bây giờ nếu có trự nào còn nhớ nổi trọn 1 bài thơ đã được dịch của Puskin thì tôi sẽ mời hắn đi ăn tiệc ngay lập tức và cung kính gọi hắn bằng " Ông Nội " -(ha)-

Có thể là tôi bảo thủ , nhưng tôi chấp nhận 2 chữ ấy 1 cách hãnh diện .

Đã làm thơ mà sợ khó , rồi nại ra 1 cái lý do là niêm luật gò bó quá làm thi nhân khó lòng phát huy ý tưởng của mình , với lại nó xưa rồi , bây giờ là người hiện đại tôi cần phải phá luật , để có thể tự do bày tỏ ý tưởng của tôi đến với quần chúng ...... Thế thì ..... vài năm sau , nhất định cũng sẽ có người nói với những " thi sỹ thế hệ mới " ấy như thế này : " Trín tả lÀ kí j ? T4.i seo bay h tui fải vit đúng trín t4? cơ chứ ? Vít seo miễn đọk hỉu là đưk. gùi ! " ...... và thế hệ mới sẽ viết ra những bài thơ tuyệt tác bằng ngôn ngữ ấy ....... ):)
Hình đại diện của thành viên
Bóng Trăng Vàng
_Global Mod_
_Global Mod_
 
Bài viết: 1952
Ngày tham gia: 08 Tháng 3 2009, 03:33
Thanks: 3345
Thanked: 4253 times trong 1038 posts

The following user would like to thank Bóng Trăng Vàng for this post
Hoanganh_tot_bung, Nhược Trần

Re: Hướng dẫn cách làm thơ

Gửi bàigửi bởi dean165 » 23 Tháng 7 2010, 13:57

Thực ra không nhà thơ nào nại ra lý do niêm luật khó quá mà họ không nhớ, không theo, mà họ muốn khám phá, tìm kiếm, vượt qua những khuôn mẫu ấy để phá vỡ thành trì ngôn ngữ mà lâu nay họ gò bó vào nó, tức là đi tìm cái mới, không nhất thiết cứ phải bám vào niêm luật để gieo vần. Mà nói cho đến cùng, làm thơ không những xuất phát từ tâm hồn mà còn là cuộc khai phá chữ nghĩa, thậm chí tìm ra "niêm luật mới" nếu có thể. Còn ai có nhớ hay không còn tùy thuộc vào cảm nhận của từng người, kể cả khi số đông tán thưởng thì chưa chắc bài thơ ấy đã đủ sống với thời gian! Tôi thấy một số nhà thơ như Nguyễn Trọng Tạo, Lê Thiếu Nhơn... ngày nay là có những khám phá mới mẻ như thế, có những bài thơ chẳng theo quy tắc, niêm luật rắc rối nào cả song vẫn sống vượt thời gian, cho nên cũng chẳng nên "ép", "bắt" cho nó vào niêm luật làm gì, nhũng bài gọi là thơ vớ vẩn thì hẳn nhiên nó sẽ chết yểu mà thôi, hoặc của ai đó làm cho vui thì đương nhiên nó cũng không đủ tư cách đại diện cho thế hệ nào cả!
Hình đại diện của thành viên
dean165
.
.
 
Bài viết: 83
Ngày tham gia: 14 Tháng 10 2009, 15:33
Đến từ: Việt Nam
Thanks: 132
Thanked: 327 times trong 65 posts


Quay về Thơ thành viên - 原創

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách